Bản dịch Việt ngữ của Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
TIN MỪNG THỜI THƠ ẤU
Lumière et Vie, số 272 - năm 2007, trang 19-28
François Brossier
Giáo sư Institut Catholique de Paris
Từ lâu, Tin Mừng về thời thơ ấu đã gây nên hai phản ứng trái ngược. Cách đọc “ngô nghê" chỉ chú trọng đến những phương diện dân gian được khai thác rộng rãi vào thời điểm Giáng Sinh (như máng cỏ, mục đồng, ba đạo sĩ, etc …), hoặc hoàn toàn chối từ những đoạn văn được cho là mang tính chất truyền thuyết hơn là lịch sử. Những nghiên cứu phê bình sử và những nghiên cứu mới đây về trình thuật đã quan tâm đến những chương này mà không thể tách biệt nó ra khỏi sách Tin Mừng. Thật vậy, giá trị thần học và lịch sử của những trình thuật này không thể được suy diễn căn cứ theo lịch sử tính của chúng.
Nghiên cứu của Paul Ricoeur[1] đã chứng minh rằng sẽ thật sự sai lầm khi giản lượt lịch sử vào “những gì thật sự xảy ra”; một sự tái hiện có tính “thi vị” (poétique) một chút thường cho phép đi xa hơn trong việc tìm hiểu lịch sử. Chính trong tinh thần này mà chúng ta sẽ bàn đến Tin Mừng của Matthêu và Luca: họ đề nghị cho chúng ta cách đọc nào về biến cố Giêsu trong những chương này có vẻ như là phần dẫn nhập thật sự cho tác phẩm của họ?
I. Tin Mừng Matthêu
Gia phả Đức Giêsu
Từ vài chục năm qua, những hiệp hội tìm kiếm gia phả gia tăng rất nhiều. Những thành viên may mắn nhất, từ sổ đăng ký của giáo xứ hoặc xã, đã có thể lần lên ba hoặc thậm chí bốn thế kỷ. Khi ta đọc gia phả Đức Giêsu ở phần đầu Tin Mừng thì không thể nào tìm thấy danh sách “chính xác” tổ tiên của ngài. Cấu trúc gia phả như thế này dễ dàng cho ta thấy nó được phân chia thành 3 lần 14 danh tính. Mt tuân thủ một truyền thống khá phổ biến vào thời Lưu Đày[2]. Việc mất lãnh thổ đã làm cho người Do Thái tìm lại gốc gác của mình qua những bản phả hệ ít nhiều có tính cách tưởng tượng; những danh sách này cũng có thể được dùng để hợp thức hoá các nhiệm vụ tư tế.
Nhiệm vụ của danh sách phả hệ trong Matthêu đã được xác định qua tiêu đề: dịch sát nghĩa là “ Sách khởi nguồn của Đức Giêsu Kitô, con vua Đavít”. “Sách khởi nguồn” lấy lại đoạn St 2,4 trong bản Hy Lạp LXX. Vì thế, đối với Matthêu, cuộc sinh hạ của Đức Giêsu thật sự là khởi nguồn của lịch sử nhân loại. Danh hiệu “Con của Abraham” đặt Đức Giêsu vào trong lịch sử Israel và “con của Đavít” như là người thừa kế các niềm hy vọng cứu thế của người Do Thái.
Danh sách đầu tiên trung thành với đoạn R 4,18-22, kết thúc bằng tên Đavít được gọi rõ là vua, danh sách này xác định tầm quan trọng của tước hiệu con vua Đavít được gán cho Đức Giêsu. Nội dung của danh sách thứ hai rõ ràng có tích cách nhân tạo bởi vì Mt buộc phải bỏ 3 vị vua để đạt đến con số 14. Danh sách thứ ba, bắt đầu từ thời Lưu Đày, bao gồm những danh tính mà không ai biết đến: Đức Giêsu không chỉ là người kế thừa những nhân vật nổi tiếng nhưng còn là của một số đông người khiêm hạ trong Dân Chúa.
Sự lặp lại trong công thức “người này sinh ra người kia” càng lộ vẻ bất thường: Giuda sinh Pharès và Zara bởi bà Tamar…, Salmon sinh Booz bởi bà Raháp…, Bôót sinh Giôbét bởi bà Rút…, Đavít sinh Salomon bởi bà vợ của Uria…, Giacóp sinh Giuse, chồng của Maria người sinh ra Đức Giêsu, còn gọi là Kitô. “Sự bất quy tắc” (irrégularité) cuối cùng này cho thấy rằng Giuse không đứng ngoài lề trong cuộc sinh hạ của Đức Giêsu, chính ngài là nghĩa phụ đã cho Đức Giêsu danh hiệu con vua Đavít.
Có mối liên hệ nào giữa năm người đàn bà này? Vài người muốn xem họ là người tội lỗi, điều này chứng tỏ rằng Đức Giêsu đã hoà nhập vào trong một dân tộc vừa thánh thiện vừa tội lỗi. Hiểu như vậy thì ta không thấy có điểm nào chung giữa họ với Đức Maria! Vả lại, truyền thống nhìn Thamar và Raháp là những gương mẫu của đức tin; và chính Đavít được miêu tả còn tội lỗi hơn Bethsabê. Người ta cũng thường nhấn mạnh đến sự kiện họ đều là người ngoại quốc để cho thấy rằng Tin Mừng sẽ được rộng mở cho dân ngoại. Lại cũng không có điểm nào chung với Đức Maria.
Đúng ra, Mt nhấn mạnh đến sự kiện dòng dõi dẫn đến Đavít trải qua những “bất quy tắc”. Cách đọc này càng được minh chứng bởi sự kiện là các truyền thống Do Thái thường cho rằng nhiệm vụ của các bà này trong việc thực thi lời hứa của Thiên Chúa là do sự can thiệp của Chúa Thánh Thần [3]. Sự tương đồng giữa các bà này với Đức Maria trở nên rõ ràng: việc thực thi lời hứa của Thiên Chúa đi qua sự bất quy tắc là: “Giuse, chồng của Maria người sinh ra Giêsu” và hành động của Chúa Thánh Thần đã rõ ràng ở những câu tiếp theo đó.
Ý nghĩa của con số 14 trong cấu trúc gia phả? 14 là cấp số nhân của 7 (chỉ sự hoàn hảo) và điều này đủ để giải thích nguồn gốc của nó. Nhiều người nhìn thấy cách tính giá trị số chữ (gématrique)[4] của các phụ âm trong tên gọi bằng tiếng hebreu của Đavít (D+V+D = 4+6+4 = 14). Điều này cũng cố tầm quan trọng của danh hiệu “con vua Đavít”.
Loan tin cho Giuse
Tường thuật về việc loan tin cho Giuse giải thích điều được nói trong Mt 1,16. Nó nhấn mạnh đến vai trò của Giuse trong việc xác định gốc gác của Đức Giêsu thuộc về dòng dõi Đavít và vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc thụ thai của Đức Giêsu. Câu trích đoạn Is 7,14 trong bản LXX Hy Lạp chứng minh việc thụ thai này phù hợp với lời hứa của Thiên Chúa được loan truyền qua các ngôn sứ.
Điều gây khó khăn chính là sự liên hệ giữa đặc tính “người công chính” của Giuse và ý muốn ly dị Maria cách kín đáo. Có nên giải thích rằng vì Giuse biết con trẻ đến từ đâu và ông muốn rút lui để khỏi cản trở ý định của Thiên Chúa [5]? Thế nhưng trong bản văn của Mt, việc truyền tin của Chúa Thánh Thần chỉ xảy ra sau khi Giuse quyết định ly dị cách kín đáo. Phải chăng nên hiểu từ “công chính” này theo nghĩa thông thường là người tuân giữ Lề Luật? Trong trường hợp này, quyết định của Giuse là phù hợp với Lề Luật ngay cả khi ông làm điều này vì thương xót. Nhưng quyết định này gây trở ngại cho dự tính của Thiên Chúa. Chính sự can thiệp của Chúa Thánh Thần đã cất đi trở ngại này[6]. Khi đặt tên Giêsu cho con trẻ, Giuse làm tròn vai trò người cha nuôi và hậu duệ dòng dõi của Đavít.
Thụ thai trinh khiết
Việc thụ thai trinh khiết của Đức Giêsu không có sự can thiệp của Giuse đã được Matthêu và Luca xác quyết rõ ràng. Nhưng vấn đề được đặt ra cho các độc giả là thế này: có phải thực tại cụ thể của việc thụ thai trinh khiết đã “tìm đến” việc trích dẫn đoạn Is 7,14 hoặc là đoạn trích này dẫn đến trình thuật của Matthêu? Cần phải biết rằng một chú giải duy nhất khó lòng mà giải quyết dứt khoát vấn đề và các giải thích tuỳ thuộc rất nhiều vào truyền thống của mỗi giáo hội. Đối với Elian Cuvillier [7], giáo sư phân khoa thần học Tin Lành ở Montpellier, “trình thuật Mt 1,28-25 là một théologoumène, nghĩa là một lối diễn tả bằng câu chuyện về một chân lý thần học”. Trái lại, nhà thần học Dòng Tên, Bernard Sesboué [8], nhìn thấy trong việc thụ thai trinh khiết một dấu hiệu trống rổng nhưng có thực của việc can thiệp từ Thiên Chúa: “Cũng như không ai mang Đức Giêsu đặt vào cung lòng của Maria, thì cũng không ai lấy ngài ra khỏi ngôi mộ”.
Viếng thăm của các đạo sĩ, chạy trốn sang Ai Cập và cuộc thảm sát các anh hài.
Cuộc viếng thăm của các đạo sĩ không hướng độc giả về căn tính của Đức Giêsu và việc thụ thai của ngài nữa, nhưng về sự tiếp đón ngài. Trình thuật được cấu trúc bằng hàng loạt những điều mâu thuẩn. Các đạo sĩ được ngôi sao dẫn đường đã đến Giêrusalem để bái kiến vua dân Do Thái vừa mới hạ sinh. Hêrôde, vua đang tại vị, rõ ràng không phải là vị vua được tìm kiếm này. Các luật sĩ có thể trưng dẫn tiên tri Mikha để chỉ ra nơi sinh của con vua Đavít, Bethlêhem, thế nhưng chính các đạo sĩ mới là những người đi đến Bethlêhem. Rõ ràng rằng vua Hêrôde, toàn thể Giêrusalem, các thượng tế và luật sĩ tiên báo hình ảnh cho những người sẽ giết Đức Giêsu. Các đạo sĩ tượng trưng cho dân ngoại sẽ gắn bó với Tin Mừng của Đức Giêsu.
Cũng có thể nhận thấy Matthêu nhìn Môisen như là hình ảnh tiên báo của Đức Giêsu. Một nhà cầm quyền tàn ác (Pharaon, Hêrôde) tìm cách sát hại các trẻ nam (của dân Do Thái, của thành Bêlem); nhưng nhờ vào sự can thiệp của Thiên Chúa, chỉ một người (Môisen, Giêsu) thoát khỏi cuộc thảm sát và trở thành người cứu thoát cho dân mình. Về phần các đạo sĩ, họ là hình bóng của Balaam (Ds 22,24); được Baraq (tương nhiệm với Hêrôde), vua Moab mời đến. Balaam đến từ Phương Đông (Ds 23,7) được giao cho nhiệm vụ nguyền rủa dân Do Thái. Nhưng Thiên Thần Chúa đã xoay chuyển mục đích này; Balaam loan báo một “ngôi sao sẽ mọc lên từ nhà Giacóp” (Ds 24,17) rồi ông trở về nhà mình. Ngôi sao của các đạo sĩ cũng được giải thích như là dấu hiệu cứu thế và có liên hệ đến dòng dõi Đavít được nhấn mạnh trong chương đầu của Matthêu.
André Paul đã nhấn mạnh đến sự tương đồng giữa các trình thuật Mt 1,18-25; 2,13-15 và 2,19-23: sau khi sắp xếp, Thiên Thần Chúa hiện ra với Giuse trong giấc mơ và ra lệnh cho ông; một đoạn Cựu Ước được trích dẫn để chứng minh Đức Giêsu đã hoàn tất các lời hứa tiên tri như thế nào; lệnh của Thiên Thần Chúa được thi hành. Trong trình thuật thứ hai và thứ ba, câu trích dẫn sách ngôn sứ được đặt cuối cùng. Sự tương đồng càng rõ rệt hơn nữa khi cả ba trình thuật đều được kết thúc bằng một danh tính của Đức Giêsu: “Ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu”, “Ta đã gọi con ta”, “người sẽ được gọi là người Nadarét”. Qua ba danh tính này, căn tính và nhiệm vụ của người con của Đức Maria đã được xác định.
Giêsu có nghĩa là “Thiên Chúa cứu thoát”; đây chính là nhiệm vụ của Đức Giêsu được Thiên Thần Chúa nêu rõ trong 1,21: “chính ngài sẽ cứu thoát dân mình khỏi tội lỗi”. Trong bản văn Hs 11,1, người con chỉ Israel: như vậy, Đức Giêsu là dân Israel mới hoàn tất đầy đủ cuộc Xuất Hành. Trong hai trình thuật còn lại, danh xưng “người con” không còn mang nghĩa biểu trưng nữa nhưng là một hiện thực: bản gia phả đã giới thiệu ngài là con của Abraham và con của Đavít; ngài còn là Con Thiên Chúa nữa. Danh xưng thứ ba hơi khó hiểu một chút. Trước hết, không tìm thấy danh xưng này trong Cựu Ước; lại nữa người Nadarét không có ý nghĩa gì rõ ràng, nhưng vì trước đó trình thuật có nói Đức Giêsu định cư tại Nadarét cho nên ta có thể nghĩ rằng Matthêu chú trọng đến danh xưng này vì nó nói lên việc Đức Giêsu đăng ký vào một nhân loại cụ thể: ngài không phải là một nhân vật huyền thoại.
Kết luận
Vì thuận tiện, chúng ta gọi các chương này là “Tin Mừng thời thơ ấu”. Tiêu đề này làm chúng ta hiểu rằng có thể tách riêng hai chương đầu ra khỏi phần Tin Mừng còn lại. Thật ra đây là phần tựa hoàn toàn liên kết với phần còn lại của tác phẩm. Trước hết, bởi vì căn tính của Đức Giêsu như được giới thiệu ở đây không thể nào hiểu được nếu không có đức tin vào sự chết và sống lại của Đức Giêsu.
Kế đến, bởi vì cái nhìn về Đức Giêsu như là Môisen mới là một chủ đề trở đi trở lại nhiều lần trong toàn bộ Tin Mừng. Ví dụ, trình thuật về cuộc cám dỗ (Mt 4,1-11) nhắc lại việc chay tịnh của Môisen trong 40 ngày đêm (Xh 34,28). Trong bài giảng trên núi (Mt 5), Đức Giêsu như là một Môisen mới không huỷ bỏ nhưng hoàn thiện Lề Luật. Khi Biến Hình (Mt 17,1-9), Đức Giêsu được Môisen và Elie vây quanh trên núi cao, những nhân vật vĩ đại này gắn bó với ngọn núi của Thiên Chúa. Cuối cùng, cũng chính trên núi mà Đức Giêsu phục sinh đã ban huấn thị cho các tông đồ. Trong suốt Tin Mừng, Đức Giêsu là người mang đến sự hoàn thiện, hoàn tất hình ảnh những nhân vật vĩ đại trong Giao Ước cũ là Môisen và Đavít.
II. Tin Mừng Luca
Nhìn chung, cái nhìn trình thuật của Luca khác rõ ràng so với Matthêu. Trong khi Mt đặt nặng hình ảnh của Giuse thì Maria chiếm ưu thế trong Luca. Gia phả mở đầu cho trình thuật của Matthêu được tìm thấy trong Luca khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ bằng bộ ba danh xưng tập trung vào “Con Thiên Chúa”: khi chịu phép rửa (Lc 3,21-22), tiếng từ trời phán rằng: “Con là con ta”; phả hệ (Lc 3,23-38) bắt đầu với Đức Giêsu và lần lên đến “con của Adam, con của Thiên Chúa” (như vậy đã đặt ngài vào trong toàn thể nhân loại chứ không riêng gì dòng dõi thể lý của Israel); trình thuật về cuộc cám dỗ (Lc 4,1-13) mà trong đó ma quỷ đã nói với Đức Giêsu: “Nếu ngài là con Thiên Chúa…”
Cấu trúc trong trình thuật của Luca
Luca đã dùng một thể loại văn chương rất phổ biến trong thế giới Hy Lạp đương thời: lối so sánh song song (paralléllisme). Khi đặt Gioan Tẩy Giả song song với Đức Giêsu, Luca nhấn mạnh đến sự liên tục giữa hai hình ảnh này cũng như hành động của họ và đồng thời ưu thế của Đức Giêsu trên Gioan. Do cả hai đều xuất phát từ phong trào phép rửa và Gioan lại rửa tội cho Đức Giêsu, nên một số môn đệ của Gioan suy diễn ra rằng Gioan ở trên Đức Giêsu. Đáp lại, Luca không đả phá hình ảnh của Gioan nhưng nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của ông xuất phát từ việc ông là người tiền hô; hay nói cách khác, chính con người của Đức Giêsu đã làm cho Gioan trở thành “người vĩ đại nhất trong con cái loài người” (Lc 7,26-28).
Ta có thể đưa ra một cấu trúc như sau cho Lc 1-2:
A) Loan báo sự sinh hạ của Gioan (1,5-25)
A’) Loan báo sự sinh hạ của Đức Giêsu (1,26-38)
B) Sự can thiệp của Thánh Thần khi mẹ Đức Giêsu viếng thăm mẹ của Gioan (1,39-59)
C) Sự sinh hạ và phép cắt bì của Gioan (1,67-80)
C’) Sự sinh hạ và phép cắt bì của Đức Giêsu (2,1-21)[9]
B’) Sự can thiệp của Thánh Thần khi dâng Đức Giêsu vào Đền Thánh (2,22-39).
D) Đức Giêsu vào Đền Thánh lúc 12 tuổi (2,40-52)
Trong phạm vi bài viết này, không thể chú giải tất cả. Chúng tôi chỉ xin đưa ra một vài ví dụ có ý nghĩa.
Loan báo sự sinh hạ của Gioan
Làm sao nói về việc giữ sự thinh lặng, nghĩa là mạc khải bên trong, nếu không tìm lại sơ đồ của các trình thuật về những cuộc truyền tin trong Cựu Ước và trong các truyền thống Do Thái. Sơ đồ này được sử dụng lại trong cuộc truyền tin cho Đức Maria.
Tường thuật này xảy ra ở Đền Thánh Giêrusalem nơi mà Dacaria, do lá thăm chỉ định, có nhiệm vụ dâng hương ở Cung Thánh Điện. Cả ông và vợ đều được cho là “người công chính trước mặt Chúa”; điều này thật mâu thuẩn bởi vì sự hiếm muộn của Sara có vẻ như là hình phạt của Thiên Chúa. Vì tuổi tác, tình trạng hiếm muộn hầu như là vĩnh viễn của Elidabét sắp được Thiên Chúa biến đổi như lời truyền tin của Thiên Thần Chúa, đáp ứng lời cầu xin của Dacaria. Có thể thấy sự đáp ứng của Thiên Chúa qua tên “Gioan” có nghĩa là “Thiên Chúa ban ơn huệ”.
Nhưng Thiên Chúa đã vượt khá xa lời cầu xin của Dacaria bởi vì nhiệm vụ được giao cho Gioan là “tập hợp nhiều con cái Israel về với Thiên Chúa… và thành lập một dân tộc chuẩn bị dành cho Thiên Chúa”. Qua nhiều ám chỉ quy chiếu về Cựu Ước, lời miêu tả của Thiên Thần về nhiệm vụ của Gioan chứng minh ông là người được thánh hiến cho Thiên Chúa như Samson (Tl 13,4.7), không uống rượu hoặc thức uống có men; giống như ngôn sứ Giêrêmia (Gr 1,5), tràn đầy Thánh Thần từ trong lòng mẹ; là ngôn sứ giống như Isaie (Is 49,1-5); với tinh thần và sức mạnh của Elie (1V 17,1; Ml 3,23-24). Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng, trái với Marcô, Luca không nói rằng Gioan là Elie mới; Luca dành hình ảnh này cho Giêsu.
Sự phản đối của Dacaria đề cập đến tuổi tác của vợ chồng mình bị Thiên Thần đánh giá là thiếu lòng tin. Dấu hiệu mà Thiên Thần đưa ra để bảo đảm sự thật cho những điều mình nói là Dacaria bị câm. Sự kiện này có 2 nhiệm vụ: một phần chứng tỏ rằng Thiên Thần nói nhân danh Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng chuẩn bị cho dấu hiệu sẽ được tỏ bày cho Maria (Elidabét mang thai) sẽ chỉ được biết qua lời truyền tin của Thiên Thần (chứ không qua một nguồn nào khác!).
Truyền tin cho Maria
Khi sử dụng lại sơ đồ của các cuộc truyền tin, Luca càng quy chiếu nhiều về Cựu Ước để làm cho độc giả khám phá ra nhiệm vụ của Maria và căn tính của người con sắp được hạ sinh.
Lời chào của Thiên Thần lấy lại bản văn của Sophonie kêu gọi Giêrusalem hãy vui mừng vì Chúa đến: “Hãy vui lên, con gái Sion, Thiên Chúa … ở trong nhà ngươi” (Xp 3,14-17). Maria được gọi là “người mang ân huệ của Thiên Chúa”. Lời của Thiên Thần loan báo cuộc sinh hạ của con trẻ đã tóm tắt toàn bộ Kitô học sẽ được triển khai trong phần còn lại của Tin Mừng: ở phần đầu, các tước hiệu “vĩ đại”, “con Đấng Tối Cao” là những tước hiệu thiên sai (cf. 2V 7,14; Tv 2,7; Tv 89,27) phù hợp với lời giải thích “Thiên Chúa sẽ ban cho ngài ngôi báu Đavít tổ phụ ngài”. Sau sự chối từ của Maria gắn với sự kiện là bà không biết đến người nam, sự tuyên xưng đức tin vào Thiên Tính của Đức Giêsu trở nên rõ ràng: Thần Khí sáng tạo sẽ ngự trên Maria (cf. Kn 1,2 và Tv 104,30); quyền lực của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà” gợi lên hình ảnh chiếc lều gặp gở trong Xuất Hành (Xh 40,34-35), dấu hiệu sự hiện của Chúa giữa dân ngài; với việc thụ thai Đức Giêsu, sự hiện diện này không còn là biểu tượng nữa nhưng là hiện thực. Vì thế tước hiệu “Con Thiên Chúa” phải được hiểu theo nghĩa mạnh ở đây.
Câu trả lời của Maria gợi lại câu trả lời của Rút khi bà chấp nhận lấy ông Bôót (R 3,9).
Như vậy, Luca đã chuyển tải một xác quyết của các Kitô hữu thời kỳ đầu tiên: nếu họ nhìn nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa sau khi phục sinh thì chính là vì ngài đã mang tước hiệu này ngay từ khi được thụ thai; nhưng chỉ một mình mạc khải của Thiên Chúa mới có thể loan báo điều này.
Giáng Sinh
Bố cục của Luca không phải là một bài phóng sự nhưng mọi yếu tố đều nói lên ý hướng của người kể.
Việc đề cập đến cuộc điều tra dân số (ngay cả khi điều này không được lịch sử Roma ghi nhận) có nhiệm vụ đăng ký cuộc sinh hạ của Đức Giêsu vào trong lịch sử: muốn nói rằng đây không phải là một huyền thoại.
Cuộc sinh hạ xảy ra ở Bêlem, thành của Đavít. Chính Giuse thuộc dòng dõi Đavít. Sự xác định này trùng hợp với khẳng định của Matthêu: Giêsu là con Đavít được mong đợi.
Cuộc sinh hạ này không xảy ra nơi cung điện nguy nga nhưng tại nơi dành cho súc vật: cuộc sinh hạ khiêm nhường và kín đáo.
Các mục đồng đón nhận tin vui trước hết, nghĩa là những người nghèo khổ và bé mọn.
Chính Thiên Thần Chúa loan báo căn tính của con trẻ này: ngài là Đấng Cứu Thế, Đức Kitô, Thiên Chúa; con người không thể hiểu thấu điều này, chỉ có mình Thiên Chúa mới có thể mạc khải căn tính này mà các tông đồ sẽ loan báo sau Phục Sinh.
Tiếng hát của cơ binh thiên quốc chứng tỏ rằng từ nay đất trời hoà hợp nhờ vào cuộc hạ sinh.
Các mục đồng trở về nhà vừa đi vừa ca tụng Chúa về những điều mắt thấy tai nghe, điều này tiên báo vai trò của các tông đồ như là chứng nhân cho các biến cố.
Tìm gặp Đức Giêsu trong Đền Thánh
Trong cấu trúc văn chương của đoạn Lc 1-2, chúng ta thấy đoạn cuối cùng không chẳng ăn nhập gì với cấu trúc nhị nguyên của các đoạn trước. Đây là đoạn chuyển tiếp giữa các trình thuật về cuộc hạ sinh của Chúa Giêsu và khởi đầu sứ vụ của ngài.
Trình thuật được đóng khung lại bằng những câu điệp khúc (câu 40.52) nói về sự trưởng thành của Chúa Giêsu.
Bản dịch sát nghĩa cho thấy nơi bắt đầu của trình thuật này: “Hằng năm, cha mẹ Ðức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, theo tập tục ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại phía sau”. Vấn đề nằm ở đây: tại sao Đức Giêsu ở lại đàng sau? Giải thích điều này như là cuộc chạy trốn của Chúa Giêsu là hiểu sai bố cục của Luca. Đoạn văn này dẫn dắt độc giả qua cuộc tìm kiếm cuống cuồng của hai ông bà cho đến khi khám phá ra Đức Giêsu đang ngồi ở vị trí giảng dạy giữa các thầy thông luật trong đền Giêrusalem. Chiếc chìa khoá nằm trong đoạn đối thoại giữa Maria và Đức Giêsu: “Cha con và mẹ đây đi tìm con - Tại sao lại tìm con, cha mẹ không biết rằng con phải ở nhà Cha con sao?”
Lễ Vượt Qua, cuộc tìm kiếm Đức Giêsu trong ba ngày (cf. Lc 24,5.7.21.46), sự hiện diện của ngài nơi nhà Cha (cf. Lc 24,51-53), tất cả những yếu tố này đã quy hướng về đoạn kết của tin mừng.
Kết luận
Nhiệm vụ của hai chương đầu tiên rất rõ ràng. Đây là đoạn Dẫn Nhập mà tác giả Tin Mừng chuẩn bị cho độc giả khám phá ra căn tính đích thực của Đức Giêsu. Hiển nhiên, điều này chỉ được nhìn nhận đầy đủ sau Phục Sinh. Nó không dựa trên lý luận của con người nhưng là trên mạc khải. Con trẻ nơi máng cỏ đã là Đức Kitô của Phục Sinh.
Bản dịch Việt ngữ của Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
[1] Cf. « la fonction narrative », trong La narrativité, Paris, édition du CNRS, 1980, p. 49-58.
[2] Cf. Philippe Abadie, “Les généalogies de Jésus en Matthieu et Luc » trong L&V n. 241 (1999) p. 47-60.
[3] Cf. André Paul, L’évangile de l’enfance selon St. Matthieu, col. Lire la Bible n. 17, Cerf, 1968, p. 30-35.
[4] Ngoài ý nghĩa chỉ số lượng và tượng trưng (như số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo), trong Kinh Thánh, con số còn mang nghĩa « số chữ » (gématrique). Đây là điểm đặc biệt của ngôn ngữ Do Thái và Hy Lạp. Chúng ta dùng dấu hiệu nào đó để chỉ con số (1,2,3 chẳng hạn) và những dấu hiệu khác để chỉ mẫu tự (a,b,c). Trong tiếng Do Thái và Hy Lạp, người ta dùng các chữ để chỉ mẫu tự và cả chỉ số nữa. Vì thế, số 1 là chữ a, 2 là b, etc. Với các mẫu tự trong một từ, người ta có thể tạo thành một con số được gọi là « gématrique », tạm dịch là « số chữ ». (chú thích của người dịch)
[5] Cf. Xavier Léon-Dufour, Études d’évangile, Seuil, 1965, p.80-85.
[6] Cf. Elian Cuvillier, Naissance et enfance d’un Dieu. Jésus Christ dans l’évangile de Matthieu, Bayard, 2005, p.59-60.
[7] Op. cit. p. 66-69.
[8] Bernard Sesboué, Jesus-Christ dans la tradition de l’Eglise, Coll. Jésus et Jésus-Christ, n. 17, Desclée, 1982, p. 80-89.
[9] Trong bộ đôi này (C và C’), sự đảo lộn tầm quan trọng của sinh hạ và cắt bì rất có ý nghĩa: đối với Gioan, 2 câu cho sự sinh hạ, 8 câu cho phép cắt bì; đối với Đức Giêsu, 20 câu cho sự sinh hạ, 1 câu cho phép cắt bì.Xem các đề tài mới nhất cùng chuyên mục:
- Cuộc đời Chúa Giê-su (cho Thiếu Nhi.) 05/05/2013
- Ngàn Mây Ơi!!!!!!1 08/03/2013
- Huấn Lệnh Của Chúa Giê Su 08/03/2013
- Mục Đích Mùa Chay 08/03/2013
- Suy niệm: Chúa giêsu 30/05/2012
- Cáo Phó Mùa Chay. 05/04/2012
- Đồi Golgota và ngôi mộ Chúa Giêsu 25/03/2012
- Mưa Giêsu 15/11/2011
- Suy Tôn Thánh Giá (14/9) 13/09/2011
- Lá Thư Từ Vị Cha Trên Trời Của Con 22/06/2011
..................................................
|


LinkBack URL
About LinkBacks














Trả lời kèm Trích dẫn
Đánh dấu